Nguyễn Văn Lục
Il n’y a ni guerre ni paix en Asie sans que la Chine soit impliquée.
Không có chiến tranh và hòa bình nào ở Á Châu mà không có sự dính líu của nước Tàu.
Charles de GaulleTác giả Nguyễn Văn Lục
Nguồn: DCVOnline
Đây là một tài liệu rất quan trọng do những cố vấn Trung Quốc viết ra như một thứ Hồi Ký của những người trong cuộc. Một tài liệu chính thức của đảng Cộng sản Trung Quốc, xuất bản vào năm 2002.
Nhưng phải đợi đến năm 2009 mới được các ông Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy dịch và hiệu đính và phát tán trên mạng Internet. Mặc dầu đề bên ngoài là “Tài liệu nội bộ.” Đã hẳn, phải có lệnh trên nên tài liệu mới được tung ra ngoài như vậy? Nhà báo Trần Giao Thủy cũng đặt nghi vấn về vấn đề này. Ông Dương Danh Di là một viên chức ngoại giao kỳ cựu làm ở tòa đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong vai trò bí thư thứ nhất. Ông có đủ thế giá khi dịch bản tài liệu này ở mức độ khách quan và trung thực.
Tập Hồi Ký này đã được cơ sở Truyền Thông in và xuất bản, tại Montreal, Canada (1). Công việc làm của cơ sở Truyền Thông từ trước đến nay với rất nhiều chủ đề như “Toàn Cầu Hóa”, “Hà Nội dâng đất, dâng biển”, “Thảm sát Mậu Thân”, “Hồi ức và suy nghĩ của cán bộ xây dựng Xã Hội chủ nghĩa” và tập sách tài liệu quý giá này thật đáng trân trọng. Ai đã có dịp đọc tờ Truyền Thông đều biết chủ trương cơ sở này là người có bản tính khiêm tốn nên tôi không tiện nêu tên ra đây.
Hồ Chí Minh cùng Trần Canh bàn kế hoạch chiến tranh biên giới
Nguồn: Truyen-thong.org
Nhà báo Trần Giao Thủy đã có công sưu tầm hình ảnh tài liệu với rất nhiều chú giải, minh họa giúp người đọc dễ hiểu hơn. Và ông đã đưa ra một lời kết luận gợi những điểm nhìn khác từ nhiều phía trong một thái độ chuẩn mực và thận trọng trí thức. Ông viết:
Chắc chắn, không ai hiểu người anh-em-đồng-chí cộng sản Trung Quốc hơn người cộng sản Việt Nam. Cuốn bạch thư Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua do nhà xuất bản Sự Thật ấn hành tháng 10, năm 1979 tại Hà Nội là bằng cớ không thể tranh cãi.
Đã thế, tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam để mãi đến 2009 mới cho phép dịch Hồi ký sang tiếng Việt để “lưu hành nội bộ”?
Đọc ký sự do cả hai bên ghi lại chuyện xảy ra 55 năm trước giữa những người anh-em-đồng-chí có “mẫu mực sáng ngời của Chủ nghĩa Quốc tế Vô sản” không dễ. Người đọc cần phải có thái độ thận trọng dè dặt như, hay hơn cả khi đọc sách An Nam chí lược của Lê Tắc.
Âu đây cũng là một bài học lịch sử quý giá cho tất cả mọi người Việt quan tâm đến vận mệnh dân tộc.
Đây là một công trình làm việc rất có ý nghĩa, nhằm đưa ra những tài liệu chính thức về phía Trung Quốc cho thấy vai trò của Trung Quốc trong chiến thắng Điện Biên Phủ không thể bị gạt ra một bên.
Ý nghĩa việc Trung Quốc công khai hóa tài liệu của tập “Ghi chép thực về việc đoàn Cố vấn Quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”
Xu hướng giải mật tài liệu càng có tính cách toàn cầu. Vấn đề là lúc nào thì giải mật. Đó là sự chọn lựa khôn ngoan thực tiễn của mỗi nước theo tính toán của họ. Việc giải mật tài liệu của Trung Quốc mà thật chỉ là những ghi chép của người trong cuộc cũng là điều có ý nghĩa lắm. Phải chăng cũng là một tính toán thời điểm thuận lợi?
Nhưng nói chung, chuyện giải mật ngày nay là một chuyện bình thường. Có khi còn là một trách nhiệm tinh thần đối với lịch sử. C.I.A Mỹ đã công khai hóa nhiều tài liệu trong những ngày gần đây. Thật ra, ngay từ năm 1971, dịch giả Diễm Châu, một thành viên chính của tờ báo Trình Bày đã dịch và phổ biển đều đều tập “Hồ sơ mật của lầu năm góc về chiến tranh Việt Nam” [The Pentagon Papers (2)] kể từ số báo Trình Bày 26 trở đi. (Hồ sơ mật đã được công bố nguyên văn trên Nữu Ước thời báo).
Vì vậy, việc công khai hóa tài liệu chính thức của Trung Quốc đã đến lúc cần được đánh giá và nhìn nhận đúng mức. Thật ra thì còn vô số tài liệu khác liên quan đến hơn một ngàn năm lệ thuộc Tàu cũng cần được giải mật. Chẳng hạn gần đây nhất là hồ sơ thời kỳ Lê Chiêu Thống, Quang Trung, hay nói chung thời nhà Nguyễn. Mặc dầu về hồ sơ thời 1945-1954 họ viết ra đấy, nhưng vẫn dấu kín, đã im lặng không lên tiếng gì trong suốt mấy chục năm qua.
Trong khi đó, phía Việt Nam Cộng sản, hồ sơ lưu trữ vẫn dấu kín, nhưng mặt khác lại tuyên truyền một cách quá lộ liễu về chiến thắng Điện Biên Phủ cũng như cá nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Một thứ chiến thắng được gọi là không có mặt người Tàu.
Phía người Pháp, kẻ bại trận trong thời kỳ ấy cũng nhẫn nhục công khai hóa các hồ sơ lưu trữ cho công chúng biết suốt thời kỳ thuộc địa 100 năm và giai đoạn1945-1954.
Nhiều nhà viết sử cho rằng Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ là do Pháp đánh giá thấp về khả năng tiếp liệu cũng như khả năng kéo pháo vào sườn núi. Chẳng hạn một xe thồ có thể chở được 200 kg lương thực. Đại bác 105 gồm 24 khẩu được tháo gỡ ra từng mảnh và kéo dọc lên sườn núi. Phải nhìn nhận rằng tình báo của Pháp là dở hoặc coi thường địch. Như Napoléon đã từng nói trước đây: “Đối với một nhà chiến lược và có lẽ với một nhà chính trị đi nữa thì sai lầm lớn nhất không thể tha thứ được là đánh giá thấp đối thủ.”
Trong cuộc Hội Thảo ở Paris, 2004, bác sỹ J.J. Arzalier đã đưa ra một bản thống kê đầy đủ về số binh lính Pháp chết và bị thương đồng thời chỉ rõ số binh lính bị bắt làm tù binh mà số phận họ không biết ra sao? Con số tù binh Pháp ấy lên đến gần 10 ngàn người. Người Pháp muốn Việt Nam bạch hóa số phận những tù binh này. Tác giả Jean Pierre Bernier còn quyết liệt hơn lên tiếng tố giác về số phận tù binh Pháp đã bị bắt, bị bỏ đói, uống nước ao, bệnh tật, không thuốc men, bị cầm tù, bị tra tấn mà chết dần mòn.
Sự tố cáo này là có thật khi một số tù binh Pháp được thả ra đã là những nhân chứng kể lại.
Hà Nội đã không chính thức lên tiếng về số phận những tù binh Pháp chết trong chiến tranh. Họ im lặng.
Vì vậy, cuộc chiến tranh này còn rất nhiều ẩn số mà chúng tôi mong đợi Hà Nội tháo khoán công khai.
Hàng ngàn tài liệu cần được giải mật.
Nhưng khó mà hy vọng Hà Nội giải mật vì làm như thế là tự tố cáo chính mình. Ý nghĩa cuộc chiến tranh được tuyên truyền đánh bóng trong bấy lâu nay sẽ mất hết. Việc giải mật của tập Hồ sơ của cố vấn Trung Quốc rất có thể làm mất ý nghĩa cao đẹp của cuộc chiến 1945-1954 đi một nửa.
Im lặng và bảo mật là điều mà Hà Nội phải làm trong lúc này. Nhưng họ sẽ bảo mật được bao lâu? Khi đến lượt Liên Xô tung ra những tài liệu về những viện trợ quân sự cho Việt Nam? Phía Mỹ nữa?
Ở đây chỉ xin nêu ra một bằng chứng tiêu biểu cần được giải mật. Đó là những lá thư của ông Hồ Chí Minh viết cho Tổng Thống Mỹ Truman trước đây. Chúng ta đều biết, cơ quan OSS, cơ quan phản gián của Mỹ, tiền thân của C.I.A có liên lạc với nhóm Việt Minh và họ đã thả dù võ khí cũng như huấn luyện các bộ đội Cộng Sản. Chuyện đó ai ai cũng biết. Nhưng nội dung những lá thư gửi cho TT Truman đã hẳn không có gì phải dấu thì dấu làm gì? Xin ghi lại tài liệu CIA nói về vấn đề này như sau:
“Thế nhưng, chính quyền Truman lại cũng hất hủi những lời kêu gọi của Hồ Chí Minh. Vào tháng tám và tháng chín 1945, bản thuật ký kể lại, trong lúc các lực lượng của Hồ Chí Minh kiểm soát Hà Nội, ông đã gửi tới tổng thống Truman một lời thỉnh nguyện qua Văn phòng Dịch vụ chiến thuật OSS, cơ quan đi trước C.I.A, yêu cầu chấp thuận cho Việt Nam một quy chế như Phi Luật Tân trong một giai đoạn giám hộ trong khi chờ đợi độc lập. Từ tháng 10-1945 cho tới tháng hai năm sau, bản thuật ký tiếp, Hồ Chí Minh đã viết ít nhất là 8 lá thư cho TT Truman hoặc cho Bộ Trưởng ngoại giao, chính thức kêu gọi Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc can thiệp chống lại thực dân Pháp.”
Giả dụ TT Truman chấp thuận cho Việt Nam một quy chế bảo hộ như đã từng làm ở Phi Luật Tân thì tương lai chế độ thuộc địa của người Pháp sẽ ra sao? Và rồi tương lai chính trị của đảng cộng sản Việt Nam sẽ như thế nào?
Về điểm này, chuyên viên về Hồ Chí Minh, ông Duiker đã phê phán TT Truman là đã từ chối những lá thư cầu khẩn của Hồ Chí Minh xin Mỹ yểm trở Việt Nam.
Điều đó cho thấy, Hồ Chí Minh là một người buôn chính trị khéo léo. Ngả theo Pháp nếu cần, theo Mỹ, theo Nga, theo Tàu. Vì thế yếu, hoàn cảnh chưa cho phép hoặc chưa chín mùi, lựa thời nào thì buôn thứ đó, miễn sao đạt được mục đích cuối cùng là thực hiện chủ nghĩa cộng sản. Phải nhìn nhận cái khôn ngoan của Hồ Chí Minh.
Đã đến lúc còn hàng ngàn, hàng vạn tài liệu khác cần được giải mật giữa Việt Nam và Pháp, Trung Hoa và Liên Xô. Chính quyền Hà Nội không thể dấu kín mãi được.
Stanley Karnow, một tác giả thường ngả về phía cộng sản đã phải thú nhận rằng khi làm film tài liệu Viet Nam, A Television History, ông có yêu cầu được phỏng vấn ba người, nhưng bị từ chối. Đó là các ông Robert Mac Namara, Lê Đức Thọ và Nguyễn Văn Thiệu.
Nhưng khó khăn nhất vẫn là các tài liệu phía cộng sản miền Bắc đã không cách nào có thể tiếp cận, tra cứu, ông viết:
“But above, the military, political, social, economic, and human dimensions of the conflict were too big for any single individual to encompass as the struggle unfolded. In particular, it was extremely difficult to report on the communist side during the war, since captured documents, propaganda, and interrogations of prisoners or defectors furnished only part of the story. I believe that North Vietnamese and Viet Cong leaders made a serious error in denying access to the Western news media.”
Vì các tài liệu miền Bắc còn dấu kín nên tôi thiết nghĩ rằng phần lớn các tác giả người Pháp viết về Điện Biên Phủ đều thiếu sót, vì không được cung cấp đầy đủ tài liệu từ nhiều phía như Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam. Những tác giả như Paul Mus, Jean Chesneaux, Jean Lacouture, Claude de Groulat, Joseph Buttinger, Philippe Devillers, Jean Sainteny, đại tướng Paul Ely, Joseph Laniel, đại tướng Henri Navarre, Bảo Đại ngay cả Bernard Fall nữa. Nhất là trường họp Jean Lacouture, sách của ông nay phải nói là không có chút giá trị lịch sử gì để đọc nữa.
Ấy là chưa kể trong số ấy không thiếu những người cầm bút trên trở thành đạo quân đánh mướn không công cho cộng sản. (Chữ dùng của tác giả Minh Võ trong Hồ Chí Minh, nhận định tổng hợp, trang 279)
Phần lớn sách họ viết đều nghèo nàn về tài liệu chưa được giải mật. Bao lâu Hà Nội không tháo khoán ra những tài liệu mật, việc viết về cuộc chiến tranh Việt Pháp không thể hoàn hảo được.
Cùng lắm, họ chỉ biết và viết được nửa sự thật.
Vì thế, không mấy thích thú phải đọc lại những gì Paul Mus, Jean Lacouturẹ Jean Chesneaux, Claude de Groulat hay Jean Sainteny viết. Họ viết thiếu tư liệu, viết vì cảm tình riêng với Hồ Chí Minh. Họ bị lừa do cái khéo léo đóng kịch của Hồ Chí Minh. Họ đánh lừa chúng ta một lần nữa một cách dại khờ.
Chuyên gia về Hồ Chí Minh, William J. Duiker gọi Hồ Chí Minh là: He had become a master of the art flattering... quả không sai.
Họ không nhận thức được bản chất của cuộc chiến tranh ấy. Nhiều người vẫn tin tưởng rằng đây là một cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, dành Độc Lập. Có thể điều đó đúng ở giai đoạn đầu mà chính giới tình báo Mỹ, chính quyền Mỹ cũng do dự như tài liệu giải mật của CIA cho thấy.
Vì thế Mỹ đã không tận tình giúp Pháp. Tôi dám chắc rằng vào lúc ấy, Mỹ dang tay đón Hồ Chí Minh thì chưa biết số phận Việt Nam bây giờ ra sao.
Nhưng kể từ mùa đông 1949, khi Hồ Chí Minh bí mật đến Bắc Kinh, yêu cầu đảng Cộng Sản Trung Quốc ủng hộ đảng Cộng Sản Việt Nam như có ghi trong tập tài liệu của các cố vấn Trung Quốc trong bài viết của La Quý Ba nhan đề: Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa Quốc tế vô sản.
Cuộc chiến ấy đã đậm mầu sắc. Nói cho đúng, nay thì mầu sắc cộng sản mới lộ ra, không còn ở giai đoạn che dấu như những năm 1945 nữa. Nó appears in true color. Nó trở thành cuộc tranh chấp mang tầm vóc quốc tế, giữa hai ý thức hệ, internationalization of the war.
Trong tất cả các bài viết của La Quý Ba, Trương Quảng Hoa, Vu Hóa Thảm, Vương Nghiên Tuyên, Độc Kim Ba trong tập tài liệu thì đều bàng bạc cho thấy sự viện trợ quân sự cho Việt Nam là do tinh thần chủ nghĩa Quốc Tế vô sản. Xin trích dẫn lời nói của Mao Chủ tịch:
“Không phải tôi muốn cử các đồng chí đi Việt Nam mà là chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu. Ai bảo Cách mạng chúng ta thắng lợi trước thì phải giúp đỡ người ta, đó gọi là chủ nghĩa Quốc tế. Các đồng chí đến Việt Nam, trước hết phải giúp Việt Nam thắng trận.”
Cho nên, theo nhận xét của tôi, tập tài liệu này có tầm quan trọng không hẳn ở chỗ Trung Quốc đã viện trợ gì cho Việt Nam về quân sự hay cố vấn chỉ đạo về chiến lược, chiến thuật.
Tập tài liệu cho thấy, bất cứ sự giúp đỡ nào cho Việt Nam, Mao Trạch Đông đều nhấn mạnh đến tinh thần Quốc tế vô sản anh em mà giúp đỡ. Ngôn ngữ của Mao Trạch Đông ở đây lại phải được hiểu theo thứ ngôn ngữ chính trị giữa các đảng anh em với nhau. Anh anh, em em nhưng bên trong có những thỏa thuận ngầm, những trao đổi có điều kiện thì chỉ họ biết với nhau.
Đó là điểm cần được nhấn mạnh nhất trong toàn bộ tập tài liệu này.
Cho nên phần lớn sách của các tác giả Tây Phương viết đều nghèo nàn về tài liệu chưa được giải mật. Bao lâu Hà Nội không tháo khoán ra những tài liệu mật, việc viết về cuộc chiến tranh Việt Pháp không thể hoàn hảo được.
Lịch sử cuộc chiến tranh ấy vẫn có phần khuyết sử.
Cho nên, tài liệu ghi chép về viện trợ quân sự của Trung Quốc do Cơ sở Truyền Thông in và xuất bản vẫn là những dữ kiện lịch sử góp phần làm rõ nét bộ mặt thật của cuộc chiến tranh 1946-1954.
Những chiêu bài giải phóng dân tộc tự nó không còn ý nghĩa gì nữa.
Đọc tài liệu về phía Trung Quốc, chúng ta cảm thấy chúng ta bị chính quyền Cộng sản Việt Nam lừa.
Đó là cảm giác trung thực nhất sau khi đọc tài liệu này.
Cảm tưởng của một số người sau khi đọc tài liệu của Trung Quốc
Tôi được đọc tài liệu này cũng đã lâu do một sử gia “nghiệp dư” gửi cho. Nghiệp dư mà xem ra còn hơn nhiều tiến sĩ nghiệp thật.
Cảm tưởng đến với tôi một cách thuyết phục đây là tài liệu thật.
Cảm tưởng thứ hai là những cố vấn Trung Quốc viết với một thái độ khách quan, chân thành, không có giọng điệu thù oán Việt Nam, không có vẻ tuyên truyền... Người nào đã đọc đều cảm nhận được một phần sự trung thực ấy. Tôi đã bị cuốn hút vào trong những ghi chép ấy mà không lúc nào trong đầu gợi lên ý tưởng thực hay giả. Nhiều sự kiện được nhắc lại nhiều lần vì do nhiều tác giả viết ra, nhưng vẫn có tính nhất quán trong nội dung. Không có cảnh ông nói gà bà nói vịt. Nhưng tôi cũng thừa hiểu rằng có một “thứ ngôn ngữ cộng sản” họ nói với nhau, người ngoài không hiểu được. Tôi là một người ngoài, tôi hiểu theo cách người ngoài trong sự dè chừng và cảnh báo. Bởi vì sau này, họ đấm đá nhau như kẻ thù.
Sự thực được viết ra một cách tự nhiên mà không cần biện giải. Đấy là cái hay, cái khéo, cái che đậy của tập tài liệu này, một thứ ngôn ngữ hai mặt rất khó cho những người thường hiểu được lá trái, lá phải.
Cho nên, sách vở tài liệu phía cộng sản thường cố tình giấu giếm truyện này, đặc biệt là các tác phẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Phải chăng đã đến lúc điều này cần được viết lại, viết đầy đủ, viết trung thực.
Tôi cũng đã hỏi một số người đã đọc qua tập tài liệu này thì không một người nào nghi ngờ về tính xác thực của nội dung các bản ghi chép này. Nhiều người đọc xong cảm thấy bị sốc, vì từ trước tới nay bị tuyên truyền, che đậy. Nhiều người cảm thấy nhục và cho thấy cấp lãnh đạo cộng sản còn thua cả một Lê Chiêu Thống. Có người đi xa hơn, hiểu ra tại sao có chuyện “Dạy cho Việt Nam một bài học.”
Từ trái: Trường Chinh, Hồ Chí Minh, Trần Canh và La Quý Ba (07/1950)
Nguồn: english.pladaily.com.cn
Riêng nhà báo Trần Giao Thủy, người biên tập và chú giải tập sách này thì trả lời dứt khoát: Tài liệu là thật. Và ông cũng đã khẳng định điều này trong phần chú giải cuốn sách.
Nói chung, mọi người đã có dịp đọc tập tài liệu này đều thấy được một phần tính xác thực của tập tài liệu. Mặc dầu cũng thừa biết rằng, Trung Quốc cũng dùng những phần sử liệu này trong việc tuyên truyền nhằm hạ uy tín của Việt Nam trong trận Điện Biên Phủ. Như nhà báo Trần Giao Thủy cho biết, đây chỉ là một phần tài liệu mà thôi. Trong đó, phần tài liệu của tướng Trần Canh nay cũng được “tháo khoán” cho ra luôn. Trong đó Trần Canh đánh giá con người tướng Võ Nguyên Giáp chẳng ra gì.
Võ Nguyên Giáp là người “quay quắt, không chính trực và không lương thiện lắm” (Slippery and not very upright and honest). Theo Trần Canh, có lần tướng Giáp phàn nàn với Trần Canh về những phê bình của La Quý Ba về Giáp, nhưng khi La Quý Ba có mặt thì tướng Giáp lại luôn luôn tỏ vẻ chân tình và nồng nhiệt. Trần Canh viết: “Khuyết điểm lớn nhất của người cộng sản Việt Nam là lo ngại người khác biết được chỗ yếu của mình. Họ không có tinh thần tự phê của người Bôn Sơ Vích.”
Đừng quên, giữa đám đông, có lần Lê Duẩn gọi tướng Võ Nguyên Giáp là tướng hèn. Nói đến hèn, tôi chợt nghĩ cho đến bây giờ tôi vẫn tự đặt cho mình câu hỏi, không biết tướng Giáp đã tự mình cầm quân ở các trận cấp tiểu đội, trung đội, đại đội bao giờ chưa? Và ở trận nào? Và tại sao Hồ Chí Minh lại cứ phải năn nỉ mời cho bằng được tướng Trần Canh sang chỉ huy các trận đánh? Không tin vài khả năng chỉ huy cấp sư đoàn của tướng Giáp chăng?
Tôi chỉ có thể nói rằng họ biết nhau quá mà. Khi mà Hồ Chí Minh khẩn khoản cho bằng được phải có Trần Canh bên cạnh ông thì chắc có hậu ý? Hậu ý đó tôi không tự mình cắt nghĩa được.
Phần tôi khi đọc xong tập tài liệu, ý kiến và cảm tưởng của tôi không khác chi lắm với ý kiến của các vị nêu trên. Nhưng tôi nghĩ rằng:
- Tập tài liêu đã có thể có trước khi những xung đột giữa hai nước.
- Ngay cả sau chiến tranh 1979, phía Việt Nam đã đưa ra cuốn Bạch Thư mà lời lẽ tố cáo, chửi bới như kẻ thù đối với kẻ thù.Tập sách này của Hà Nội đưa ra trong sự vô tình của người Việt.
- Trong suốt những năm từ 1954 cho đến 1975, ta say men chiến thắng, ta tự đề cao, ta tự công kênh nhau biến hai cuộc chiến thành những huyền thoại anh hùng cách mạng, không một chữ nhắc đến họ, không một lời mời ngoại giao trong những ngày lễ lớn ấy. Vậy mà tập tài liệu này vẫn được giữ kín cho đến gần đây.
- Lời lẽ văn từ trong tập tài liệu rất là ôn nhu, tình nghĩa. Không một lời chê trách phê phán trực tiếp ông Hồ hay Võ Nguyên Giáp vô ơn bạc nghĩa.
- Những dữ kiện, những con số được đưa ra đều chừng mực, chính xác, khách quan, không có tác dụng tuyên truyền một phía. Những kế sách đều có họp bàn, có dân chủ, có tôn trọng chủ nhà trước khi quyết định đánh hay tấn công địch.
- Tập tài liệu cũng chỉ cho thấy mối giao hảo giữa các lãnh đạo như Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Chu Ân Lai, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp thật là đầm ấm trong cái tình huynh đệ Quốc tế vô sản, giúp nhau vô điều kiện. Chỉ trừ trường hợp Võ Nguyên Giáp có những mối bất đồng về chiến lược hay chiến thuật với các cố vấn như Trần Canh, La Quý Ba, v.v…
- Tinh thần trách nhiệm của các cố vấn rất là cao, sự hiểu biết kinh nghiệm chiến đấu, kỹ thuật hay tổ chức quân đội so ra vượt các cấp chỉ huy Việt Nam khá nhiều.
- Nhưng điều tôi cho là quan trọng nhất là khi đọc xong tập tài liệu, tôi cảm thức và chia sẻ được những điều họ viết và độ xác thực là rõ ràng, không ác ý, không bôi bác khinh chê.
- Tôi và một số bạn đọc không phải là những người dễ tính, ngây thơ đến độ không phân biệt được chân giả. Họ không thể qua mặt chúng ta dễ dàng nếu thực sự họ không viết chân thực.
- Cuối cùng thì tôi đã bị tập tài liệu thuyết phục để viết ra những dòng này.
Phải chăng đó chính là sự thành công của tập tài liệu này do cơ sở Truyền Thông xuất bản và nhà báo Trần Giao Thủy biên tập, chú giải một cách trách nhiệm, công bằng mà không thiếu nghiêm nghị.
Xin nhận cho một lời khen này.
Việc Mao Trạch Đông lên nắm quyền ở Trung Hoa làm thế giới lo ngại
Cái biến cố làm thay đổi cục diện thế giới lúc bấy giờ là Mao Trạch Đông loại được Tưởng Giới Thạch và thống nhất nước Tàu. Nam Kinh bị mất. Wouhan mất ngày 16/05, một tháng sau đến lượt Shanghai vào ngày 27/05/1949. Tưởng Giới Thạch chạy xuống Trùng Khánh rồi Chengtou, rồi cứ thế đến Kouanchou, đảo Hải Nam rồi cuối cùng chạy sang Đài Loan ngày 9-12-1949.
Nhưng ngay từ đầu tháng 10/1949, tại quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh trước hàng triệu người, Mao Trạch Đông tuyên bố: Dân tộc Trung Hoa đã đứng dậy... Từ nay, sẽ không còn ai sẽ có thể khinh miệt chúng ta nữa.
Bắc Kinh được chọn làm thủ đô của nước Trung Hoa vào tháng 09/1949.
Khi tuyên bố như trên, lúc này Mao Trạch Đông mới 54 tuổi và sự nghiệp của ông mới thực sự bắt đầu. (Xem thêm Le déluge du matin, Han suyn, từ trang 533-535)
(Còn tiếp)
© DCVOnline
(2) The Pentagon Papers có tên chính thức là “United States–Vietnam Relations, 1945–1967: A Study Prepared by the Department of Defense”. Đây là một nghiên cứu mật không dùng để công bố trên phương tiện truyền thông đại chúng. Tuy nhiên Daniel Ellsberg, một cộng tác viên trong nhóm nghiên cứu đã tiết lộ gần hết hồ sơ mật này với phóng viên Neil Sheehan của tờ New York Times. Tờ báo này đã khởi đăng hồ sơ Pentagon từ 13 tháng 6, 1971 (Nguồn: Wikipedia.org).





Comments