Nguyễn Văn Lục
(Tiếp theo kỳ I)
Bảo Đại lo âu
Khi nghe tin tướng De Lattre bị bạo bệnh chết vào sáng sớm 12/01/1952, Bảo Đại đã thật sự thất vọng. Ông viết: “Sa disparition est une très grande perte pour le Viet Nam. Elle m’a touché profondemment… Après la mort du général de Lattre, j’ai le sentiment que la paix devient un fol espoir.” (Trích Le Dragon d”Annam, S. M Bao Dai, trang 292) [Sự ra đi của Đại tướng de Lattre là một mất mát rất lớn cho Việt Nam. Tôi bị xúc động mạnh trước cái chết này... Sau cái chết của Đại Tướng, ti có cảm tưởng hòa bình trở thành một niềm hy vọng hão huyền.]
Jean Joseph Marie Gabriel de Lattre de Tassigny (02/02/1889 – 11/01/1952)
Nguồn: Photo: Howard Sochurek/LIFE
Trước những biến chuyển chính trị quan trọng đang xảy ra ở Trung Hoa, Bảo Đại là người cảm thấy bất an vì cuộc chiến tranh ở Việt Nam sẽ thay đổi, một khi Mao Trạch Đông lãnh đạo nướcTrung Hoa. Bảo Đại quyết định triệu tập Hội Đồng Nội Các ngày 6 tháng 7 và cho thấy rằng những người cộng sản Tàu là mối đe dọa đến an ninh của Việt Nam. Ông ra Nghị Định tổng động viên. Ông viết: “Le 16 juillet, je décrète la mobilisation au Viet Nam. Je n’ai certes aucune illusion sur les difficultés que va rencontrer la réalisation de cette decision.” (Trích Le Dragon d’Annam, S.M Bao Dai, trang 292) [Ngày 16 tháng 7, tôi ký Nghị Định Tổng Động Viên ở Viêt Nam. Tôi biết chắc chắn mà không ảo tưởng là tôi sẽ gặp nhiều khó khăn khi cho đem thi hành quyết định kể trên.]
Người Pháp lo âu
Cũng vậy, một số tướng lãnh Pháp như tướng Revers, Valluy và Alessandri ngay khi Mao Trạch Đông chưa kịp thống nhất nước Tàu, các tướng lãnh đã họp bàn tìm cách đối phó với sự đe dọa của Trung Cộng trong buổi thuyết trình ngày 15-6-1949 như sau. Hai tướng Valluy và Alessandry chủ bại thì muốn rút bỏ Bắc Kỳ và chỉ còn giữ lại Nam Kỳ cho chắc ăn. (Trích ASHAT INDO 10H170: Procès verbal de la conférence militaire du 15-6-1949, trích lại trong Les Catholiques Vietnamiens... của Trần Thị Liên, trang 177) Riêng tướng Revers thì chủ trương giữ lại Bắc Kỳ và tăng cường củng cố biên giới phía Bắc. Tướng Revers đã tiên đoán nếu cộng sản Tàu tham chiến thì rất có thể đưa đến một thứ chiến tranh thứ ba giữa hai khối: “Si nous sommes bien décidés à nous battre, l’offensive chinoise apparaitra comme le prélude d’une troisìème guerre mondiale ce qui peut décidér du concours Américan.” Nếu chúng ta quyết tâm đánh nhau thì cuộc tấn công của Trung Quốc như mở đầu cho một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba và điều đó sẽ quyết định sự can thiệp của Hoa Kỳ.
Tình thế về quân sự như thế thật đáng lo ngại trước những đe dọa tương lai từ phương Bắc. Trận chiến mở rộng với sự can thiệp Quốc tế biến chiến tranh Đông Dương trở thành thế chiến thứ ba mà chiều kích mở rộng ấy vượt khỏi giới hạn biên giới cũng như mục tiêu chiến lược của cộng sản Hà Nội.
Vì vậy người Pháp đã vội vã trao trả độc lập cho chính phủ Quốc Gia do Bảo Đại cầm đầu để tăng cường vị thế chính trị (Chính trị thì trả lại độc lập cho Việt Nam) cũng như quân sự (Quân sự thì Bảo Đại từ nay có quân đội riêng) cho quân đội Quốc Gia vốn xưa nay lệ thuộc vào Pháp –một nền độc lập tạm thời và khập khễnh được coi là giải pháp Bảo Đại- (solution Bao Đai) vào ngày 8-3-1949 thông qua Hiệp Định Élysées.
Hồ Chí Minh nay có cộng sản Trung Hoa đứng đằng sau nên Hồ Chí Minh đã dứt khoát từ chối giải pháp Bảo Đại, một giải pháp dù là tạm thời vẫn là một tiến bộ, một bước tiến đến độc lập dân tộc sau này. Đứng trên lập trường dân tộc, quyền lợi đất nước, việc từ chối của cộng sản cho thấy họ không đếm xỉa gì đến quyền lợi đất nước, họ phải nhận trách nhiệm trước lịch sử trong việc tiêu hao xương máu của hàng triệu người cho hai cuộc chiến tranh ý thức hệ mà họ là tay sai, bù nhìn.
Lý luận thì như thế, nhưng ở bình diện thực tế, sự hỗ trợ của Trung Quốc làm thay đổi cán cân lực lượng trong cuộc chiến tranh Việt- Pháp. Như William J. Duiker viết:
“There is no doubt that the appearance of the PLA (The people’s Liberation army) on the Sino- Vietnamese frontier changed the fundamenthal equation in the Franco-Vietminh conflict. At a minimum, China now provided a more secure sanctuary for Vietminh units in case they needed to flee from enemy attacks.”
Nhưng cũng phải nhìn nhận rằng người Pháp dù có trao trả độc lập cho Việt Nam cũng không thật lòng. Cho mà tiếc. Một thứ độc lập bên ngoài (Indépenance de façade) mà ông Ngô Đình Diệm phản đối kịch liệt như nhận xét của P.Devilliers:
“Bao Dai presque seul, abandonné à lui-même, sans soutien de la classe intellectuelle, sera dans l’impossibilité de constituer avec Ngo Dinh Diem ou un autre. Le gouvernement réellement national, répondant aux voeux du peuple, qúil souhaitait.”
Bảo Đại bị bỏ rơi chỉ còn có một mình không được sự ủng hộ của giới trí thức nên không thể có được sự hợp tác của Ngô Đình Diệm hay một người nào khác để có thể thành lập một chính quyền thực sự là quốc gia đáp lại nguyện vọng của người dân cũng như điều mà ông Bảo Đại mong đợi.
Bảo Đại thường ca thán vào tháng 6-1950 rằng độc lập gì mà chính phủ không có lấy nổi một ngân sách. Mỗi tháng phải ngữa tay xin người Pháp 20.000.000 triệu đồng Việt Nam để có thể tồn tại.
Nhưng giả thử cho dù Pháp có thật tâm trao quyền cho Bảo Đại, sự thể ông có thể làm được gì?
Không có biến cố tháng 10/1949, Thiên An Môn, chắc chắn cục diện chiến tranh Đông Dương đã không kết thúc một cách bi thảm như thế. Chính quyền cộng sản cũng như dư luận thế giới phải thẳng thắn nhìn nhận sự thật này.
Sự can thiệp của Trung Quốc vào Việt Nam sau khi đã thống nhất Trung Hoa là điều có thực, không chối cãi được và là một mối đe dọa khiến Mỹ nghĩ tới những biện pháp phải đối đầu trực diện với Trung Quốc.
Pháp, Mỹ, Anh đều sợ lo ngại cộng sản nói chung và cộng sản Tàu nói riêng chứ không phải cộng sản Bắc Việt.
Á Châu với gần 3 tỉ người, với 50 thế kỷ được gọi là lịch sử kể từ khi có lịch sử với một mảnh đất không gian trải dài như vô tận từ Sinai đến Kamtchatka. Trong đó, nước Tàu với dân số đông nhất thế giới với một miền địa lý chạy dài từ Tiểu Á đến bờ Thái Bình Dương, rồi từ miền Bắc cực Sibéri đến biên giới nhiệt đới Ấn Độ và cuối cùng bất hạnh thay dừng lại ở mỏm xứ Bắc Kỳ.
Sức nặng lịch sử duy nhất đè nặng trên dân Việt Nam mà lịch sử được coi là có mấy ngàn năm cuối cùng tóm lại chỉ là một lịch sử sinh tồn để khỏi bị đồng hóa.
Vậy mà đã đôi ba lần, Hồ Chí Minh đã âm thầm đi bộ 17 ngày đêm sang Nam Ninh vào cuối năm1950 để được Lưu Thiếu Kỳ dẫn đến Bắc Kinh cầu viện quân sự như tập tài liệu của đoàn cố vấn Trung Quốc đã ghi.
Ông Hồ có thể được coi như một người vô cùng khéo léo, giả dối “Vua đóng kịch.” Nhưng cũng không khỏi bị hố. Trong buổi tiếp tân ở Nga, Staline chẳng coi ông ra gì, không muốn tiếp. Ấy là chưa kể có ý định lật đổ Hồ Chí Minh để thay thế bằng Trường Chinh. Ông Hồ có xin chữ ký của Staline, Staline không thể từ chối, nhưng sau đó cho mật vụ đến tịch thu lại tờ báo có chữ ký của Staline ở khách sạn.
“In a telling incident, Ho asked Stalin for an autograph on a Soviet magazine, as he had once asked Chenault for an autograph. Stalin could not refuse but later, suspecting a trick, ordered the secret police to recover the magazine from Ho’s hotel room.”
Theo tình báo của Pháp cho biết nội bộ đảng muốn thay thế Hồ Chi Minh bằng một nhân vật có đường lối cứng rắn hơn và ngay cả ý định muốn thủ tiêu Hồ Chí Minh.
Trường Chinh theo Tàu và đó là cái thế mạnh của ông ta.
“According to French intelligence sources, one result of the congress had been to replace the influence of moderates like Ho Chi Minh with hard –line elements led by Truong Chinh, who had been reelected to the key post of Party general secretary, and one source in the Saigon press even reported that Ho had been executed at the order of Vo Nguyen Giap. Knowledgeable sources in Ha Noi to day privately concede that the congress probably represented a defeat for Ho Chi Minh and a triumph for those, like Truong Chinh, who were determined to follow Chinese advice and apply a harsher approach to the Vietnamese revolution.”
Nhưng cuối cùng thì Hồ Chí Minh vẫn giữ được địa vị của mình qua nhũng cơn sóng gió chính trị. Bà Sophie Quinn-Judge trong phần kết luận cuốn sách của mình đã đưa ra nhận xét sau đây về Hồ Chí Minh: “It was Ho Chi Minh’s ability to move between these different realms which finally secured his place as the most successful leader of the indpendence struggle.” (Trích Ho Chi Minh, The missing years, Sophie Quinn-Judge, trang 257)
Nhưng dù sao cũng có nỗi nhục chứ.
Ông Hồ Chí Minh đã từng kêu gọi: “Thay vì hy sinh và không cúi đầu làm nô lệ, đồng bào hãy cùng đứng lên tiến về phía đằng trước. Bất kể là đàn ông, đàn bà trẻ con, người già, người trẻ, không kể tôn giáo quốc tịch.”
Tránh họa thực dân mà xu hướng giải thực trước sau gì cũng phải xảy ra cách này cách khác mà có thể không cần đổ máu. Như trường hợp trao trả độc lập của người Mỹ ở Phi Luật Tân, Người Anh ở Mã Lai ở Miến Điện. Người Hòa Lan, người Anh ở Ấn và Nam Dương. Tránh họa thực dân để đổi lấy một tai họa như “Tai Trời” của chủ nghĩa bành trướng của nước lớn thì được gì, mất gì?
Vì thế hiểm họa cộng sản thế giới là điều có thực cũng như hiểm họa cộng sản Tàu. Ngay sau thế chiến thứ hai, Thủ tướng W. Churchill đã cánh cáo thế giới về “Cái gọi là hiểm họa cộng sản.” Nhiều nhà lãnh đạo vẫn chưa nhận thức được mối đe dọa ấy.
Dư luận qua TT Nixon nhìn chiến trận Điện Biên Phủ như một thử thách đầu tiên về khả năng của “Thế Giới Tự Do” về sự cần thiết chống lại chế độ cộng sản.Tại Hoa Thịnh Đốn, Đô Đốc Arthur Radford đã đưa ra chiến dịch Vautour, trong đó họ sẽ dùng ba quả bom nguyên tử cỡ nhỏ để tiêu diệt các vị trí của Việt Minh và giải thoát quân đội Pháp ở lòng chảo Điện Biên Phủ. Người Mỹ không phải là không biết sự can thiệp của Trung Quốc vào Việt Nam bằng yểm trợ quân sự, lương thực cũng như huấn luyện cho quân đội Việt Minh. Vì thế, vào tháng 3, Tổng Thống Eisenhower đã nghĩ tới những giải pháp hóa giải như cho quân của Tưởng Giới Thạch đổ bộ xuống đảo Hải Nam hoặc phong toả đường biển ngăn chặn tàu bè của Trung Quốc qua lại. TT Eisenhower nhận định rằng, từ đây đến 48 giờ sắp tới, bất kỳ lúc nào, có thể chúng ta phải tham dự vào trận chiến Điện Biên Phủ ngõ hầu ngăn chặn trận chiến đó quay lại chống lại chúng ta, trong trường hợp đó, Tổng Thống sẽ triệu tập lãnh tụ đảng dân chủ cũng như Cộng Hòa để thông báo cho họ những điều mà Tổng Thống sẽ tiến hành.
Những biện pháp quân sự như dự liệu đã không xảy ra vì không được Thủ Tướng Anh W. Churchill tán thành. Mà W. Churchill vì quyền lợi riêng không tán thành thì mọi việc chắc chắn sẽ không xảy ra.
Xin ghi lại đây tài liệu Ngũ Giác Đài:
“Chiếu theo hoàn cảnh khẩn yếu đương thời và tùy thuộc vào sự ước lượng kết quả các chiến dịch đã khai diễn theo các tiểu đoạn a và b ở trên, chuẩn bị sẵn sàng có những hành động thêm nữa chống lại Trung Hoa cộng sản để giảm thiểu khả năng tiến hành chiến tranh của Trung Cộng như:
- Hủy diệt thêm những mục tiêu quân sự chọn lọc. Liên hệ với những mục tiêu mới này, một hành động như vậy đòi hỏi một cuộc tấn công bằng nguyên tử mở rộng, nhưng hết sức chọn lọc cộng thêm với những cuộc tấn công sử dụng các hệ thống vũ khí khác.
- Phong tỏa bờ biển Trung Hoa. Việc này có thể khởi công dần dà từ ngoài khơi.
- Chiếm giữ hoặc vô hiệu hóa đảo Hải Nam.
- Hoạt động chống lại Hoa lục bằng các lực lượng Trung Hoa Quốc Gia
Tập tài liệu của cố vấn Tàu đã vượt được cái truyền thống của sự giả dối.
Nếu tập tài liệu do cơ sở Truyền Thông xuất bản và phát hành cho thấy độ xác thực là có, ngược lại tài liệu phía Việt Nam thì dấu kín và cái gì được đưa ra chỉ là tuyên truyền, thiếu trung thực dẫn đưa đến những nhận định sai lầm. Đó là hiện tượng nhiễu xạ rối loạn giữa thông tin và phản thông tin. Information và désinformation. Cái mà Claude de Groulat trong L’Aigle et le Dragon gọi là: “La surinformation est vite synonyme de désinformation.” (Trích tác giả Claude de Groulat, trang 2)
Cũng vậy, cùng ý tưởng ấy, Guy Sorman trong cuốn Sortir du socialisme (Lối thoát ra khỏi chủ nghĩa xã hội) ở trang 49, tác giả chứng minh rằng ở bên Nga, từ thời Staline đã có thói quen thổi phồng hoặc che đậy một số sự thật. Tỉ dụ, kinh tế gia Nicolas Chmelev đã cho thấy những con số thống kê ở Nga Sô đã được thổi phồng lên 10 lần sự thật. Chẳng hạn sản xuất kỹ nghệ tăng 9% mỗi năm, nông nghiệp tăng 10%/năm. Nhưng thực sự, họ không bao giờ cho biết 9%, 10% của cái gì? Trước chiến tranh thứ hai, Staline đã thanh trừng những kẻ thù của chế độ cộng sản cộng thêm với nạn đói kém đã làm hàng chục triệu người dân Nga chết. Để lấp đầy khoảng trống số nạn nhân đã chết, Staline đã thổi phồng tổng dân số Nga đã tăng hơn 30 triệu để che dấu tội ác của ông ta.
Và để thực hiện được những điều dối trá ấy, Staline dùng các tổ chức intelligentsia trong việc cài người, đe dọa, khủng bố, bắt tù đầy, tra tấn, hướng dẫn dư luận, tuyên truyền ngụy tạo đi đến một thứ chủ nghĩa Lê nin, chủ nghĩa Staline như mọi người đều biết.
Staline rất sợ sự thật, vì thế để phòng hờ, ông ra lệnh thủ tiêu những kẻ nào nói lên sự thật hoặc khai trừ hết những nhà thống kê.
Vì thế phải đợi đến thời Gorbachev mới nói đến perestroika là vì vậy.
Người cộng sản là như thế. Cộng sản Nga dối trá như thế nào, cộng sản Việt Nam là một bản photopie gốc.
Vậy thì chúng ta sẽ nghĩ gì khi đọc một tài liệu về cuộc chiến 1946-1954 “Ghi chép thực về đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp” Hồi ký của những người trong cuộc ghi chép. Nhưng như tôi vừa trình bày ở trên, tài liệu do cộng sản Trung Quốc xuất bản có đủ độ khả tín, khả năng thuyết phục cao về những sự việc họ nêu ra. Và nếu giả dụ tài liệu này chứa đựng nhiều sự thực thì phải chăng phía cộng sản Hà Nội đã cố tình che đậy, nói dối?
Theo ông Bùi Tín, một nhà báo chuyên nghiệp, trong kỳ Hội Thảo tại Paris, 2004 đã cho biết: ‒
“Tôi từng một thời gian là người phát ngôn chính thức của QDND. Tôi cũng làm báo quân sự trong chiến tranh. Hồi ấy, chúng tôi được lệnh giữ kín tổn thất của ta và nhân lên tổn thất của đối phương. Ví dụ: theo công bố trên báo QDND thì chúng tôi đã hạ đến gần 7000 máy bay Mỹ, nhưng thật ra số đó là 3600. Số lính Mỹ chết và bị thương ở miền Nam đăng trên báo cộng lại thì lên đến 500 ngàn, mà thật ra số chết là 51 ngàn. (Thật ra con số chính thức là 58.000 người).”
Sự dối trá này hiểu được trong thời chiến, nhưng bây giờ thì dối trá để làm gì?
Vì thế, đọc bất cứ cuốn sách nào do Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết, ông cố tình tránh né những con số chính xác về những tổn thất của binh đội Bắc Việt. Thường ông chỉ dùng những chữ rất tổng quát, không định lượng như bên ta tổn thất nhẹ, hoặc trong trận này, binh đội ta bị thiệt hại nặng. Nặng hay nhẹ ở đây không nói lên được điều gì.
Nguồn: photobucket.com
Đó là một cách che đậy vụng về tương đương với dối trá. Và thiếu nhân bản, thiếu tình đồng đội.
Trong khi đó, nếu địch thua thì ta chỉ rõ bằng con số rất chi ly và đầy đủ. Chẳng hạn trong chiến dịch Việt Bắc, 22/12/1947, địch thua đau và để lại: 3300 quân Pháp chết tại trận, hàng trăm tên ra hàng, 18 máy bay bị bắn rơi, 33 ca nô và 16 tàu chiến bị bắn chìm, 255 xe cơ giới bị phá hủy. Ta thu 8000 súng đủ loại.
Còn chiến dịch Hòa Bình, 1951, thời của tướng De Lattre de Tassigny. Sau 3 tháng, ta đã diệt được 22.000 binh sĩ địch (Gấp 8,9 lần số binh sĩ Pháp chết tại trận Điên Biên Phủ), phá hủy 213 xe các lọai, 23 canô, 13 máy bay, 9 đầu máy xe lửa, thu 6.948 súng đủ loại, 116 tấn đạn, 129 máy vô tuyến điên.
Trận trước, ta chỉ giết được hơn 3000 quân địch, nhưng ta tịch thu được 8000 khẩu súng. Nhưng trong trận này, ta tiêu diệt hơn 22.000 quân địch, chỉ tịch thu được 6948 khẩu? Phải chăng chúng dấu đi trước khi chết? Chắc lại cần đến phép tính của Bùi Tín để trừ hao đi là vừa.
Tôi xin mạn phép không đề rõ xuất xứ tài liệu lấy ở đâu, vì lấy ở đâu cũng thế thôi. Cùng lắm cứ cho là tôi phịa ra cũng được. Mà chắc là phịa vì làm sao tin được những con số như thế. Tôi hy sinh danh dự để giữ thế giá cho đảng.
Tôi cũng xin trích dẫn một tài liệu khác, rất uy tín do Lê Duẩn viết: “Trong Tết Mậu Thân, chủ yếu từ đêm 30 tháng 1 đến cuối tháng 2, năm 1968, ta đã diệt và làm tan rã từng mảng lớn quân ngụy, diệt 147.000 tên, có 43.000 tên Mỹ.” (Trích Thư vào Nam, Lê Duẩn, trang 42.)
Cũng vậy, trong dịp Hội Thảo ở Paris, kỷ niệm 50 năm Điện Biên Phủ vào tháng 12/2004, ông Ngô Đăng Trí, viện khoa học xã hội đã chính thức đưa ra con số bộ đội vừa bị thương và vừa bị chết là 10 ngàn người. Nếu tính tỉ lệ trung bình cứ một chết, ba bị thương thì số bộ đội chết là 2500 người, còn lại 7500 người bị thương? William J Duiker đã đưa ra con số như sau về những tổn thất của hai bên trong trận chiến Điện Biên Phủ:
“The French defeat had been total. More than1.500 of the defenders had died, 4000 were wounded, and the remainder were taken prisoner or listed as missing. About 70 managed to escape and made their way back to the French lines. VietNam losses were even heavier, with more than 25.000 casualties, of whom nearly 10.000 were killed in action.”
Những con số ấy đưa đến những nghi ngờ có gian trá bên trong. Và muốn biết được một con số gần sát thực hơn, người ta phải đi những con đường vòng, nhặt nhạnh trong các bài hồi ký, các phỏng vấn để tới một kết quả sát thực tế hơn. Tôi đọc một bài hồi ký cho thấy có 4, 5 nghĩa trang chôn tử sĩ tại các đồi như nghĩa trang đồi Him Lam, đồi Độc Lập, Đồi A1, v.v... Chỉ riêng nghĩa trang đồi Độc Lập đã có tới 2000 mộ liệt sĩ. Ấy là chưa kể theo như lời ông Trương Hữu Thêm kể:
“Khi đi thăm đồi A1, công nhân xây dựng vô tình đào trúng mấy chục bộ hài cốt bộ đội Việt Nam đang ngồi trong tư thế ngắm bắn. Dưới lòng đất Điện Biên Phủ nay hẳn còn nhiều bộ hài cốt như thế.”
Điều đó cho thấy rằng, chiến trận xong, họ không có thì giờ và công sức thu dọn chiến trường. Hằng mấy chục xác chết trong giao thông hào không thể không trông thấy. Và còn hằng trăm, hàng ngàn xác chết như thế nữa? Có thể xác chết đã sình thối.
Họ mặc kệ để cho thiên nhiên, cho mưa nắng làm công việc kết thúc cuối cùng thay cho họ.
Tôi cũng đưa ra thêm bằng cớ cho thấy bộ đội cộng sản chết nhiều, chết như rạ, nhưng vẫn bị che đậy dối trá. Trong bài viết Prisonnier des Francais à Dien Bien Phu, đăng trong tờ Le Monde, ngày 22/4/2004, tướng Nguyễn Chương bị Pháp bắt làm tù binh đã thuật lại trận đánh vào cứ điểm Elianne II như sau:
“Vous rendez-vous compte, poursuit-il, que pendant les derniers jours de la bataille, nous avons perdu tant d’hommes pour prendre la seule position Eliane II… Pas moins de 22 attaques et contre-attaque pour quelques mètres de terrain; pour l’emporter, il a fallu creuser un tunnel sous la position francaise et y fait exploser une tonne d’explosifs. “Le cimetìère militaire qui se trouve aujourdh’ui au pied de la colline avec huit cents de nos morts à Eliane II, dit Chuong.” Ông nói tiếp, các ông biết đấy trong những ngày cuối cùng của trận đánh, chúng tôi đã mất bao nhiêu là người để có thế chỉ chiếm được cứ điểm Eliane II… Không ít 22 lần tấn công và phản tấn công để tranh dành nhau từng thước đất, để thắng được, chúng tôi đã phải đào một địa đạo chạy ngầm dưới vị trí đóng quân của người Pháp và cho nổ hàng tấn thuốc nổ. Nghĩa trang quân đội bây giờ nằm dưới chân đồi là nơi 800 người chúng tôi đã để xác lại, Chương đã nói như thế.
Nhắc lại những trận đánh khủng khiếp này mà theo tướng Chương:
“Có lúc xe tăng Pháp ủi và tràn ngập các giao thông hào. Tất cả đồng đội cũng như vị chỉ huy tiểu đoàn đều chết hoặc bị thương. Tôi thu gom đồng đội chỉ còn khoảng 30 chục người ra lệnh rút lui. Bọn lính Phi Châu tiến lên chiếm lại vị trí giao thông hào và giết những người bị thương còn lại… Tôi bất tỉnh và không còn biết gì nữa.”
Chiến tranh thật là buồn. Ông đã nói như thế.
(Còn tiếp)
© DCVOnline
http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=6466








Comments