Phong Thu
Lời mở ‒ Anh Thạnh đã đi thật rồi sao? Lệ Châu ơi, chị đừng khóc nữa. Tôi viết cho chị những lời thương mến, để an ủi, chia sẻ nỗi mất mát quá lớn trong cuộc đời của chị, mà sao nước mắt tôi cứ chảy quanh. Xin gởi lại đây những dòng tưởng niệm để nhớ đến anh, một người anh hùng vô danh đã vì nước quên mình. Tôi cũng trân trọng gởi đến chị lòng ngưỡng mộ của tôi về nghị lực, lòng can đảm, thủy chung của chị đối với người chồng bạc mệnh. Nơi chân trời mênh mông huyền diệu, anh sẽ không còn đau khổ, vương vấn cõi trần đầy đau thương và nhiều bất trắc. Tôi cầu nguyện cho linh hồn anh được bình yên trong cõi thiên thu. Anh là một người tù bị lãng quên cũng như hàng ngàn những người anh hùng khác chết thầm lặng không ai biết và nhớ đến...
Ngày rằm, chùa đông nghẹt không còn có chỗ chen chân. Lệ Châu nắm tay tôi len lỏi từng bước. Hơn nửa tiếng đồng hồ chúng tôi mới vào được chánh điện. Lệ Châu lôi trong giỏ ra một bó hoa, một thẻ nhang thơm, hai cây đèn cầy đỏ, một dĩa trái cây và đặt tất cả dưới chân bức tượng Phật lớn thếp vàng. Khói nhang từ chiếc lư hương đồng màu đen bay lên mù mịt làm mờ đi ánh sáng của ngọn đèn điện trên trần. Hàng mấy trăm người đứng, quỳ khắp nơi trong chánh điện. Tiếng kinh cầu vang vọng, tiếng gõ mõ từng hồi hoà lẫn tiếng nói lao xao làm tôi nghẹt thở. Lệ Châu đốt nhang và lâm râm cầu nguyện. Chị dẫn tôi đi khắp nơi để cắm nhang xuống từng pho tượng đặt xung quanh. Cuối chánh điện, chúng tôi rẽ vào một căn phòng rộng lớn trong đó có rất nhiều bình đựng tro cốt người quá cố. Những chiếc bình bằng sành với nhiều hình dáng khác nhau đặt trên những chiếc kệ bằng gỗ. Tôi quan sát một vòng thấy người chết ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Họ được thân nhân đưa vào đây để linh hồn được thanh thản, bình yên ngày đêm nghe tiếng kinh cầu.
Tôi thì thầm vào tai chị, “Khi em còn ở Việt Nam, chùa không được mở cửa. Nhiều ngôi chùa bị bỏ hoang hoặc bị đập phá. Không ngờ bây giờ chùa xây nhiều và rất khang trang. Người ta đi chùa đông nghẹt, mọi người yêu Phật quá há chị.”
Sen Nguồn teachenglishinasia.net
|
Lệ Châu cười, “Không phải chỉ có dân mà mấy ông cán bộ bây giờ mê tín dị đoan hơn cả dân Sài Gòn ngày xưa. Họ xem bói toán, xin sâm và cầu nguyện nhiều hơn dân.”
Tôi đùa một câu, “Họ đã quá giàu thì vào chùa để xin cái gì thêm? Hay là chùa cho bớt tội với đất trời?”
‒ Chùa xây nhiều, to, lộng lẫy cũng là một dịch vụ kiếm ăn đó em. Em có nghe ngôi chùa Bát Nhã ở Lâm Đồng đang gặp nạn không? Chùa càng to nạn càng lớn. Chẳng biết các quan lớn đi chùa nhiều để tịnh tâm, tu đạo, kìm hãm dục vọng hay họ muốn gì? Có thể muốn cho giàu hơn, ngồi cái ghế đó lâu hơn. Và cũng có thể cầu nguyện cho kẻ thù của họ mau chết.
Tôi hơi tức cười về câu nói đầy ngụ ý của chị. Nhìn quanh căn phòng chứa đầy hài cốt người chết, tôi hơi sợ nên hỏi, “Chùa thờ nhiều hài cốt như vậy mai mốt đâu còn chỗ để thờ?”
Lệ Châu buồn bã thở dài, “Người ta bây giờ chết lãng xẹt lắm em. Phần lớn là bị xe đụng chết hay bị bịnh kỳ quặc rồi chết non. Em biết chị dẫn em vào đây để thăm ai không?”
‒ Em nghĩ chị thăm các Sư Cô, Sư Bà trong chùa.
‒ Các Sư cô, Sư Bà bây giờ già yếu và không còn có quyền hành gì trong chùa nầy đâu em. Ngày xưa, thùng tiền cúng hỉ chỉ có một bây giờ mấy chục cái, ở khắp nơi. Thế nhưng các Sư Cô, Sư Bà không có quyền đụng đến. Đã có người của nhà nước lo rồi em.
Lệ Châu nói xong và nhìn tôi một lúc thật lâu. Đôi mắt sáng, to, hơi xếch của chị bây giờ vẫn đẹp và quyến rũ người đối diện. Chị không nói gì thêm nên nắm tay tôi đi sâu vào một góc phòng. Chị dừng lại bên một chiếc bình màu lam có khắc những hoa vân màu ngọc thạch làm nổi bật một cánh hoa cúc màu vàng sậm. Chị sờ tay lên chiếc bình và thì thầm, “Hôm nay là ngày giỗ đầu tiên của anh. Em đến để đưa anh đến nơi anh mong ước. Anh thân yêu! Anh ngủ yên và không còn vương vấn gì. Còn em sao cứ mãi ray rức nhớ anh.”
Lệ Châu áp chiếc bình lạnh giá vào má và nước mắt chị chảy quanh. Tôi sững sờ đến lặng người khi biết anh Thạnh chồng chị đã qua đời. Lệ Châu không cho tôi biết hôm nay là ngày giỗ đầu của anh Thạnh. Chị mời tôi đến chơi vì tôi từ Hoa Kỳ về thăm gia đình và hình như chị muốn tôi biết thêm câu chuyện bí ẩn mà đã hơn một phần tư thế kỷ chị chưa hề tiết lộ cùng ai.
Tôi và Lệ Châu dạy học chung một trường. Lệ Châu lớn tuổi hơn tôi. Chị dạy Sử Địa, còn tôi dạy Văn. Do bản tính vui vẻ và dễ thân thiện, Lệ Châu đã gây cho tôi mối thiện cảm ngay hôm gặp chị lần đầu. Khi tôi về dạy tại trường Hoà Bình, tôi vẫn còn rất trẻ và đơn độc, Lệ Châu đã có gia đình và có một cháu trai. Anh Thạnh làm ở Sài Gòn lâu lâu mới về thăm vợ con. Tôi nhiều lần đến chơi nhưng không bao giờ gặp anh. Một ngày cuối năm, tôi đi chợ gặp chị đi chung với một người đàn ông nhỏ nhắn, khuôn mặt xương xương với làn môi mím chặt. Anh đứng hơi thấp hơn chị. Chị dẫn anh Thạnh đến giới thiệu với tôi. Đó là lần đầu tiên và lần sau cùng tôi gặp anh. Vài tháng sau, cả trường xôn xao báo tin chồng chị bị bắt vì anh tham gia chống chế độ. Chị vào trường mặt nhợt nhạt, tái xanh, đôi mắt buồn rầu sưng húp. Tôi thương chị quá nhưng không biết nói lời gì để an ủi bạn. Những người trong trường ái ngại nhìn chị xầm xì. Riêng tôi vẫn thân thiện và quý mến chị như xưa.
Tôi càng gắn bó với chị, cái nhìn của những người xung quanh về tôi không mấy thiện cảm nhất là đối với Ban Giám Hiệu và những người Đảng Viên cầm đầu các ban trong trường. Tôi cóc cần họ. Nhiều lần tôi muốn hỏi thăm về anh Thạnh và những vấn đề xung quanh vụ án của anh. Nhưng Lệ Châu chỉ biết khóc và nói rằng vô vọng, anh có thể bị tử hình, không còn hy vọng anh trở về với vợ con. Người thiếu phụ xinh đẹp, thông minh, hai mươi năm sống cô đơn phòng không chiếc bóng. Tuổi xuân thì của chị héo tàn như một cành hoa trước cơn bão dữ, và nước mắt người thiếu phụ chờ chồng rơi từng đêm như những cơn mưa lũ.
Ngày tôi rời Việt Nam, chị không dám đưa tôi ra sân bay vì sợ liên luỵ. Hai mươi năm tôi trở về nhìn đất nước mà nhiều người cho rằng đã thay đổi. Sự đổi thay tốt hay xấu tuỳ theo góc độ nhìn của mỗi người sâu hay cạn. Còn tôi, nhìn những mảnh vườn, ruộng lúa êm ả, tĩnh lặng, thơ mộng đã biến mất khiến lòng tôi bồi hồi luyến tiếc. Nhiều nhà cao tầng mọc lên, đường xá khang trang, đời sống người dân có vẻ sung túc hơn xưa. Nhưng đất nước phát triển trong tình trạng hỗn loạn, cảnh giàu nghèo chênh lệch đến nghiệt ngã, lối sống ăn chơi, nhậu nhẹt, và cách làm tiền cũng lắm mưu ma chước quỷ làm tôi ngao ngán.
Bàn tay chị lần tìm tay tôi và nắm chặt, “Đi em. Chị có việc quan trọng phải làm.”
Tôi lặng lẽ theo chân chị.
‒ Sao chị không báo tin cho em biết là anh Thạnh đã chết?
Lệ Châu nhìn tôi, nước mắt ràn rụa, “Làm sao chị có thể báo tin cho Trinh được. Em ở xa quá! Nếu em còn ở Việt Nam thì chị đâu đến nỗi buồn và cô đơn như bây giờ.”
‒ Tại sao anh chết? Chị nói với em rằng anh được ra tù mà.
Chị lau nước mắt bằng một chiếc khăn vuông nhỏ và nói, “Chị sẽ kể cho em nghe. Bây giờ em ra trước cổng chùa đứng chờ chị. Chị làm vài thủ tục với nhà chùa để đem hài cốt anh đi. Chị sẽ ra gặp em.”
Tôi nhìn nét tiều tuỵ, buồn phiền hiện lên trên mặt Lệ Châu và cảm thấy ái ngại. Lệ Châu quay lưng đi. Tôi quan sát mái tóc Lệ Châu ngày xưa dài ngang vai bây giờ ngắn củn cỡn và đã bạc quá nữa. Vóc dáng cao lớn, nụ cười duyên dáng của chị đã héo tàn theo thời gian và bao đau khổ. Chồng ở tù hai mươi năm, Lệ Châu vẫn sống một mình nuôi con, thăm nuôi chồng và chờ ngày anh Thạnh trở về. Hai mươi năm xưa khi tôi còn ở Việt Nam, anh Thạnh bị bắt ở tù vị tội chống lại chính sách cải tạo tư sản mại bản, cách ruộng đất và ngăn sông cấm chợ của chính quyền cộng sản. Anh bị kết án hai mươi năm tù giam cùng với một số đồng đội của anh. Người cầm đầu bị án tử hình.
Cứ mỗi một nghị quyết, một chính sách sai lầm của nhà nước đưa ra là có một số người chết và tù tội mà không bao giờ có toà án nào minh oan cho họ. Mới đây nhất, hàng loạt luật sư và những trí thức ưu tú bất đồng chính kiến bị bắt bỏ tù vì lên tiếng đòi tự do, dân chủ. Và mấy tháng nay tin tức về một luật sư trẻ, tài năng, linh hoạt có tấm lòng yêu tổ quốc cũng đã bị bắt khẩn cấp và bị đẩy ra khỏi hoạt động của xã hội. Một luật sư khác vì bênh vực cho nhà thờ Thái Bình ở ngoài Bắc cũng đã bị sách nhiễu và gán cho tội ngoại tình. Tôi đọc báo Việt Nam trên mạng, tôi thấy chính quyền Việt Nam mở cửa he hé, rồi đóng cửa bất tử làm nhiều người kẹt tay kẹt chân trong tù.
Cai trị một quốc gia mà làm việc tùy hứng, tùy thời và tùy theo tình hình thế giới y hệt thời kỳ chiến tranh. Nhưng tệ nhất là những ai sống trong xã hội Việt Nam đều bọc mình trong một lớp vỏ dầy cộm của loài ốc mượn hồn. Tôi đọc hàng trăm tờ báo Việt Nam, và thấy họ lên án những trí thức nghiên cứu, đọc và tham khảo tài liệu nước ngoài. Nổi bật nhất là vụ án luật sư Lê Đình. Ông là một luật sư du học tại Hoa Kỳ và Pháp. Ông mang những kiến thức Tây Âu vào để khai sáng nền luật pháp tối tăm của Việt Nam. Tại sao tham khảo những tư tưởng tiến bộ lại là phản động? Tại sao nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội mở cửa cho sinh viên đi du học lại ngồi xổm trên óc họ để điều khiển. Sự đầu tư tiền của, tim óc của gia đình và bản thân họ có giúp ích được gì cho đất nước Việt Nam tăm tối, u mê? Đây là sự phá sản lớn nhất, tiêu hao nhiều nhất. Nó là sự hoang phí lớn gấp ngàn lần những vụ tham nhũng của chính quyền Việt Nam từ trước đến nay.
Sản phẩm trí tuệ vô giá, nó sẽ là cứu cánh cho cả dân tộc Việt Nam được nhìn thấy ánh sáng văn minh nhân loại, giúp cho đất nước giàu mạnh, thịnh vượng mà không cần phải bò bằng hai tay và hai chân đi ăn mày Tàu hay bất cứ nước Tây Âu nào. Tôi có cảm giác, nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội quen thói ăn mày nên không biết xấu hổ và biết nhục. Nhìn khuôn mặt trẻ trung của vợ luật sư Lê Đình, tôi cảm thấy đau xót. Vì cô là hình ảnh của Lệ Châu bạn tôi hơn hai mươi bốn năm về trước. Số phận người miền Nam được lập lại nguyên bản làm tim tôi bồi hồi rỉ máu, thương xót, đau khổ, căm phẫn và tức giận. Bao nhiêu trạng thái đó bỗng phủ chụp trong tim, óc tôi lúc nầy ngay trong ngôi chùa linh thiêng cổ kính mà tôi thường viếng thăm, thắp hương cầu nguyện. Tôi cầu nguyện đã hơn triệu lần để mong ước đất nước tôi, bạn bè tôi, dân tộc tôi thoát khỏi khổ nạn. Nhưng Phật ở đâu mà dân tộc tôi cứ mãi chìm đắm trong đau khổ, bất hạnh. Tôi nắm chặt hai bàn tay lại. Những cây nhang đang cháy bỗng gãy ngang rơi xuống đất.
Lệ Châu vỗ nhẹ vào vai tôi, “Em đang nghĩ gì mà bẻ nhang gẫy vụn hết vậy? Sao mặt em xanh lè như đang giận ai.”
Tôi nhìn thẳng vào mắt chị, “ Em đang liên tưởng đến những ngày sắp tới của luật sư Lê Đình và vợ anh ấy. Số phận của họ sẽ là bản sao của chị và anh Thạnh. Em đau xót quá!”
‒ Đất nước nầy như vậy đó em. Người ta lập lại tất cả những gì cổ xưa nhất để trị dân. Có vậy mới gọi là cộng sản chớ. Thôi mình đi ra sông nhé!
Chiếc xe gắn máy tróc sơn, cũ kỹ, già nua của chị gầm lên, phóng lướt trên con đường thị xã dầy đặc xe cộ và bụi mù.
Dòng sông Sài Gòn nước đang lên đục ngầu màu phù sa. Những đám lục bình to lớn trôi bềnh bồng xuôi dòng. Những chuyến đò chở khách sang sông vẫn lừ đừ rời bến. Hai bên bờ người dân buôn bán tấp nập, ghe thuyền đậu dọc theo bờ sông. Chị không dừng lại ở bến Bạch Đằng mà chở tôi xuôi về miệt vườn, nơi có một khoảng sông vắng lặng và yên tĩnh. Chị dựng xe dưới một tàng cây hoa bằng lăng đang nở hoa tím nhạt và đem cái bình tro cốt của anh Thạnh đặt trên chiếc khăn vuông màu hoa cà. Chị lấy nhang ra thắp khấn vái. Tôi biết chị đang làm gì nên cũng lặng lẽ thắp nhang van vái anh tha thứ vì sự vô tình của tôi. Người chèo đò đưa chúng tôi ra giữa dòng sông. Dòng sông rộng và nước đang lớn. Mặt trời hắt những cơn nóng gắt, chói chang trên mặt nước lấp lánh ánh bạc. Tôi giúp chị mở một giỏ đầy hoa cúc đủ màu. Chị ngồi trước đầu con thuyền nhỏ, bàn tay chị rải từng cánh hoa xuống lòng sông.
Sông sài Gòn Nguồn oneblogfor2girls.files.wordpress.com
|
Chị mở nắp bình tro cốt và nói thầm qua tiếng nức nở nghẹn ngào, “Em đã thực hiện lời nguyện ước cuối cùng của anh. Bây giờ anh sẽ nằm lại đây dưới dòng sông tuổi thơ. Anh sẽ hoà vào dòng nước, hoà vào phù sa để nuôi dưỡng những mơ ước mà anh ấp ủ trong lòng người dân Việt Nam. Rồi mai đây, em cũng sẽ về với anh. Chúng mình sẽ bơi lội trong dòng nước yêu thương đong đầy những kỷ niệm ngày xưa.”
Bờ vai chị rung lên. Gió sông lao xao, lao xao và nước mắt tôi đã rơi xuống dòng sông lúc nào không hay.
Người chèo đò nhận tiền tôi tặng rồi lặng lẽ bỏ đi. Lệ Châu vẫn còn ngồi dưới gốc cây dừa lửa. Mắt chị đỏ hoe. Tôi im lặng không muốn khuấy động niềm đau người goá phụ nên kiên nhẫn đứng chờ. Chị nhìn ra dòng sông một lúc thật lâu, đôi mắt xa vắng và câu chuyện hơn một phần tư thế kỷ đã hiện về....
…
‒ Mẹ ơi! Ba về, ba về.
Tiếng reo của bé Tài làm Lệ Châu giật mình. Châu lau nhanh hai bàn tay vào chiếc khăn treo ở gần bếp và đi nhanh lên nhà. Thạnh đang nhấc bổng Tài lên khỏi đầu và dụi mặt vào bụng thằng bé. Nó cười hăng hắc khoái chí nhưng cũng phụng phịu:
‒ Ba làm con nhột quá.
Thạnh ôm Tài vào lòng và hôn bé liên tục vào má và trán nó. Lệ Châu đứng nhìn hai cha con đùa nghịch, lòng hạnh phúc, sung sướng.
Châu hỏi chồng, “Hôm nay thứ ba sao anh về sớm vậy. Bộ công ty cho nghĩ phép hả?”
‒ Nhớ em và con nên về thăm.
Thạnh một tay ằm con một tay ôm siết vợ vào lòng và hôn nàng. Giọng Thạnh nồng nàn, “Em hơi gầy và mắt em quầng thâm. Em không ngủ phải không?”
Lệ Châu nhìn chồng âu yếm, “Nhớ anh nên không ngủ ngon. Anh à! Anh xin đổi về đây sống gần em nhé! Em và con nhớ anh quá! Một tuần về thăm em có hai ngày rồi đi. Em buồn quá!”
Thạnh dí ngón tay vào mũi vợ, “Cái tật nhõng nhẽo không bỏ. Anh mà về đây là vợ chồng con cái đói rã ruột. Lương hàng tháng không đủ anh ăn một tuần, lấy đâu nuôi vợ, nuôi con.”
‒ Em cũng đi làm mà.
Thạnh gật đầu và cười lớn, “Làm giáo viên bây giờ chỉ có ăn phấn thôi cô nương.”
‒ Em có thể đi buôn bán lặt vặt để có thêm thu nhập.
‒ Anh không muốn em vất vả. Anh làm ở Sài Gòn thu nhập khá hơn. Khi nào dành dụm được một ít tiền, anh sẽ mua nhà và đưa hai mẹ con em về Sài Gòn sống. Dù sao sống gần mặt trời mà đở nóng hơn.
Bữa cơm chiều rộn ràng và vui mỗi khi Thạnh về thăm nhà. Lệ Châu đi chợ mua thêm một ít cá lòng tong kho tiêu và mua thêm ít rau thơm, hai cái trứng chiên. Bữa cơm đạm bạc, nghèo nàn nhưng đầy tiếng cười. Những ngày không có Thạnh ở nhà, Lệ Châu chỉ nấu bo bo ăn với muối xả ớt, còn cơm và cá để dành cho con. Nàng sợ những ngày không tiền mua bột ngọt, tiêu, đường, dầu để giúp cho bữa cơm thêm ngon miệng. Cái gì cũng thiếu thốn nhưng hầu như không ai dám kêu ca.
Đêm đó, Tài không chịu ngủ sớm. Nó xí chỗ nằm và chen vào nằm giữa ba mẹ. Một chân nó gác ba, một chân gác mẹ. Nó hết xoay bên nầy rồi đổi bên kia để hôn cho được ba mẹ trước khi nó ngủ thiếp đi, đầu gối trên cánh tay của Thạnh. Đẩy bé Tài sang một bên, Thạnh bắt đầu hôn Lệ Châu. Ghì chặt vợ vào lòng, Thạnh thì thầm, “Bé Tài lớn nhanh như thổi. Anh mong rằng khi nó lớn lên có thể thay anh chăm sóc cho em.”
Lệ Châu ôm ngang lưng Thạnh hỏi nhỏ, “Tối nay anh nói năng thật lạ. Khi yêu em, anh luôn nói rằng anh sẽ đi theo em suốt cả cuộc đời, phải không?”
‒ Anh vẫn mong ước sẽ lo lắng chăm sóc em suốt đời. Nhưng nếu lỡ mai sau anh có bề gì thì ai sẽ lo cho con và em?
Lệ Châu nũng nịu dụi đầu vào ngực chồng, “Sao hôm nay anh nói gì kỳ vậy?”
‒ Nhiều lúc chúng mình mong ước hạnh phúc bên nhau suốt đời nhưng hoàn cảnh nào đó phải xa nhau thì sao?
Lệ chậu ngạc nhiên hỏi, “Sao lại xa nhau? Không ai có thể làm cho vợ chồng mình chia cắt.”
Thạnh chợt nhổm dậy. Cả hai nghe tiếng xe hơi đỗ trước sân và nhiều tiếng chân lao xao. Con chó Ky Ky sủa vang, tiếp theo là tiếng gõ cửa khẩn cấp.
‒Mở cửa! Mở cửa mau lên.
Bé Tài thức giấc mếu máo khóc. Lệ Châu hốt hoảng khoát vội chiếc áo choàng và bước ra mở cửa. Năm người đàn ông mặc sắc phục công an, mặt mày đằng đằng sát khí xuất hiện. Một người thấp lùn, mắt nhỏ hất tay ra lịnh:
‒ Lục soát trong nhà.
Lệ Châu thất kinh hỏi, “Các ông làm gì mà đêm tối vô nhà tôi lục xét lung tung vậy? Tôi đâu có làm gì sai trái.”
Giọng ông ta đanh lại, “Chồng bà đang trốn ở đây phải không? “
Thạnh bước ra và thản nhiên nói:
‒ Các ông muốn tìm tôi phải không? Tôi đây, các ông muốn bắn muốn giết gì cũng được. Vợ con tôi vô tội.
Lệ Châu chết điếng trong lòng. Công an nửa đêm đến đây tìm Thạnh. Anh ơi! Anh đã làm gì nên tội mà người ta đi lùng sục bắt anh. Nếu anh có mệnh hệ nào làm sao em sống nổi. Lệ Châu muốn gào lên nhưng tiếng kêu của chị tắt trong cổ họng. Châu run rẩy khóc vì sợ hãi, lo lắng bàng hoàng.
Thạnh ôm vợ vào lòng và hôn lên má. Anh nói như xin lỗi, “Em tha lỗi cho anh. Anh đã làm cho mẹ con em đau khổ.”
Hai công an đến còng tay anh và dẫn ra xe. Bé Tài hốt hoảng chạy theo gào lên:
‒ Ba ơi! Ba ơi! Sao người ta bắt ba rồi. Ba ở lại với con đi...
Tiếng gào của nó thảm thiết và vang vọng trong đêm. Từ đó, Lệ Châu không bao giờ còn gặp lại chồng. Nàng nhiều lần làm giấy tờ đi thăm nuôi nhưng không được chấp thuận. Công an đã mời Châu lên làm việc và nói cho chị biết Thạnh đang hoạt động cho một tổ chức phản động ở nước ngoài chống lại chính quyền. Họ dò la xem chị có biết gì về tổ chức của Thạnh không. Nhưng Lệ Châu nói chị không hay biết gì về chuyện Thạnh làm nên họ chỉ cảnh cáo và khuyên chị nên làm ăn nuôi con.
Một năm sau, Thạnh và bạn bè chàng bị nhà nước đem ra xét xử. Tất cả những người tù còn rất trẻ. Họ chỉ khoảng từ hai mươi lăm đến ba mươi lăm tuổi. Người cầm đầu nhóm dáng cao lớn, trán cao, mắt sáng, anh bị kêu án tử hình. Nhưng anh vẫn bình thản, lạnh lùng nhận tất cả tội về mình và không xin giảm án. Thạnh thoát khỏi án tử hình nhưng chẳng những không cho rằng mình có tội mà còn lên tiếng tố cáo chính sách hợp tác xã nông nghiệp, chính sách ngăn sông cấm chợ của Lê Duẩn đã đẩy người dân vào cảnh đói rách không có gạo để ăn. Thạnh lãnh nguyên bản án hai mươi năm tù giam. Nhiều người dân hiếu kỳ đến xem xử án đã rơi lệ và thương xót.
Lệ Châu đau buồn khóc nức nở than rằng Thạnh không hề nghĩ đến vợ con mà chỉ nghĩ đến lý tưởng mà chàng và bạn bè chàng đeo đuổi. Vài năm sau, chính sách thăm nuôi tù tương đối dễ dàng. Lệ Châu dành dụm tiền lương tháng, tiền chơi hụi gom lại lặn lội đi thăm chồng đang nhốt ở trại tù ngoài Bắc. Mỗi lần gặp nhau chỉ được một tiếng đồng hồ. Trông anh đen đủi, ốm yếu, tiều tụy, võ vàng. Hai con mắt sâu hóm, má hóp như một ông già nhưng tinh thần anh vẫn vững vàng, tỉnh táo. Thạnh luôn khẳng định với Lệ Châu rằng anh vô tội. Anh có tội chăng là tội thương dân, thương đất nước, và xin Châu hãy tha thứ vì anh đã không làm đủ trách nhiệm một người chồng, một người cha. Quà của Châu đem thăm nuôi, Thạnh đem chia hết cho bạn bè trong tù với tinh thần lá lành đùm lá rách. Mỗi lần đi thăm nuôi trở về, Lệ Châu lại khóc vì thương chồng và thương cho con...
(Còn tiếp)
Recent Comments